THÔNG BÁO
CN M-L.pptx

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Thái Văn Kịp (trang riêng)
Ngày gửi: 07h:15' 30-09-2015
Dung lượng: 11.2 MB
Số lượt tải: 3
Nguồn:
Người gửi: Thái Văn Kịp (trang riêng)
Ngày gửi: 07h:15' 30-09-2015
Dung lượng: 11.2 MB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích:
0 người
XIN KÍNH CHÀO CÁC ĐỒNG CHÍ
TRUNG TÂM BỒI DƯỠNG CHÍNH TRỊ GIANG THÀNH
CHUYÊN ĐỀ 1
CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH - NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG VÀ KIM CHỈ NAM CHO HÀNH ĐỘNG CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG
A- Chủ nghĩa Mác - Lênin
B- Tư tưởng Hồ Chí Minh
NỘI DUNG BÀI HỌC: GỒM 2 PHẦN
- Học viên hiểu được những kiến thức cơ bản về sự ra đời của chủ nghĩa Mác - Lênin;
- Khái niệm, nguồn gốc, quá trình hình thành, phát triển và giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Từ đó, giúp các đồng chí học viên nâng cao nhận thức về chính trị tư tưởng. Trên cơ sở đó, vận dụng kiến thức đã học vào hoạt động thực tiễn của cơ quan, đơn vị và bản thân.
* MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU
- Chủ nghĩa Mác - Lênin - kết quả kế thừa, phát triển tinh hoa trí tuệ của loài người; Bản chất khoa học, cách mạng và giá trị của chủ nghĩa Mác – Lênin.
A- CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
I- SỰ RA ĐỜI CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
C. Mác
(5/5/1818-14/3/1883)
Ph. Ăngghen
(28/11/1820-5/8/1895)
V.I. Lênin
(22/4/1870-21/1/1924)
2- Tiền đề khoa học và lý luận:
3- Tiền đề thực tiễn
1- Tiền đề kinh tế - chính trị
1- Tiền đề kinh tế - chính trị
www.themegallery.com
- Tiền đề trước hết dẫn đến sự ra đời của chủ nghĩa Mác – Lênin là sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
*Về KT-XH
G.Oát (1736 - 1819)- người hoàn thành việc phát minh ra máy hơi nước
Máy kéo sợi Gien ny
Xe lửa Xti phen xơ
Mâu thuẫn cơ bản của xã hội tư bản là giữa tính chất xã hội hoá của lực lượng sản xuất với hình thức chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất trong xã hội tư bản ngày càng phát triển trở thành mâu thuẫn chủ yếu của xã hội tư bản.
*Về KT-XH
1- Tiền đề kinh tế - chính trị
+ Phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản ngày càng lan rộng, phát triển từ tự phát tới tự giác, từ đấu tranh kinh tế tới đấu tranh chính trị, cần có lý luận khoa học và CM dẫn dắt, soi đường. CNXH khoa học do C.Mác và Ph.Ăngghen sáng lập đã đáp ứng những yêu cầu cấp thiết đó .
*Sự xuất hiện GCVS
1- Tiền đề kinh tế - chính trị
Chủ nghĩa Mác – Lênin là sự kế thừa và phát triển những thành tựu quan trọng nhất của tư duy lý luận, từ tư duy triết học cho đến các khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.
2- Về tiền đề khoa học và lý luận :
Về khoa học tự nhiên: Vào giữa TK XIX đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, trong đó có ba phát minh quan trọng.
* Quy luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng
* Học thuyết tế bào
* Thuyết tiến hóa của Đác-uyn
* Quy luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng
Giulơ (1818 – 1889)
Nhà Vật lý nước Anh
Lômônôxốp
Định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng: VC luôn vận động, tồn tại vô hạn, vô tận.
2- Tiền đề khoa học và lý luận:
* Học thuyết tế bào
2- Tiền đề khoa học và lý luận:
Thuyết tế bào: tính thống nhất VC của thế giới và nguyên lý sự phát triển
Thuyết tiến hóa của Đác-uyn
2- Tiền đề khoa học và lý luận:
Thuyết tiến hoá của Darwin: mối liên hệ phổ biến
Thuyết tiến hóa của Đác-uyn
2- Tiền đề khoa học và lý luận:
Thuyết tiến hoá của Darwin: mối liên hệ phổ biến
*Triết học cổ điển Đức Đặc biệt là G. V. Ph. Hêghen (1770 – 1831) và
L.Phoiơbắc (1804– 1872)
Về lý luận, có những thành tựu của triết học cổ điển Đức, tiêu biểu là :
2- Tiền đề khoa học và lý luận:
Triết học cổ điển Đức đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác, đặc biệt là triết học của Hêghen và Phoiơbắc.
* Kinh tế chính trị cổ điển Anh (Với hai đại biểu tiêu biểu: A.đam Xmít, 1723 – 1790 và Đavit Ricácđô, 1772 - 1823)
Về lý luận: Kinh tế chính trị cổ điển Anh Là những người có công lao lớn trong việc xây dựng lý luận về giá trị của lao động.
2- Tiền đề khoa học và lý luận:
Xanh Ximông
* Chủ nghĩa xã hội không tưởng đầu TK XIX (Với ba đại biểu xuất sắc: Xanh Ximông, 1760 – 1825, Sáclơ Phuriê, 1772 – 1837, Rôbớc Ôoen, 1771 -1858)
+ Về lý luận: Chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp, Anh thế kỷ XIX đã có một quá trình lịch sử phát triển lâu dài và đạt đến đỉnh cao của nó.
2- Tiền đề khoa học và lý luận:
3- Tiền đề thực tiễn
Sự phát triển của nền đại công nghiệp đã sản sinh ra một giai cấp mới đó là giai cấp công nhân. Trong xã hội TBCN đã xuất hiện hai giai cấp cơ bản, đối lập nhau về lợi ích là giai cấp tư sản và giai cấp vô sản.
Phong trào công nhân cần một hệ tư tưởng soi đường, Chủ nghĩa Mác ra đời đã đáp ứng được yêu cầu đó.
Tóm lại, dựa trên những tiền đề khoa học và lý luận, nhằm đáp ứng những yêu cầu cấp thiết trong cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân. C. Mác và Ph. Ăngghen đã kế thừa, tiếp thu có chọn lọc và phát triển những tiền đề lý luận trên để sáng tạo ra học thuyết khoa học và cách mạng cho giai cấp vô sản.
C. Mác và Ph. Ăngghen
II- CHỦ NGHĨA MÁC – LENIN – KẾT QUẢ KẾ THỪA, PHÁT TRIỂN TINH HOA TRÍ TUỆ CỦA LOÀI NGƯỜI
Chủ nghĩa Mác - Lênin thực chất là “chủ nghĩa công sản khoa học theo nghĩa rộng”, một hệ thống lý luận thống nhất gồm ba bộ phận: triết học Mác - Lênin, kinh tế chính trị Mác - Lênin và chủ nghĩa xã hội khoa học
1- Ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác - Lênin
1.1. Triết học Mác - Lênin (bao gồm chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử):
Là khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy. Triết học Mác-Lênin đem lại cho con người thế giới quan khoa học và phương pháp luận đúng đắn để nhận thức và cải tạo thế giới.
1.1. Triết học Mác - Lênin (bao gồm chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử):
1.2. Kinh tế chính trị Mác – Lênin
- Nghiên cứu PTSX tư bản chủ nghĩa, chỉ rõ bản chất bóc lột của QHSX tư bản chủ nghĩa.
- Nghiên cứu những quy luật phát triển của QHSX XHCN, xây dựng một xã hội không có áp bức, bất công, vì tự do, ấm no, hạnh phúc cho mọi người.
- Là khoa học nghiên cứu giữa người với người trong quá trình sản xuất của cải vật chất
c) Chủ nghĩa xã hội khoa học
- Nghiên cứu những quy luật chuyển biến từ xã hội TBCN lên xã hội XHCN
- Nó chứng minh rằng: việc xã hội hóa lao động trong CNTB đã tạo ra cơ sở vật chất chủ yếu cho sự ra đời tất yếu của CNXH.
- Động lực trí tuệ và tinh thần của sự chuyển biến đó là chủ nghĩa Mác – Lênin (cơ sở lý luận) lực lượng xã hội thực hiện sự chuyển biến đó là giai cấp vô sản và nhân dân lao động (cơ sở thực tiễn).
a) Đấu tranh bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
2- Sự bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác của V.I. Lênin
a) Đấu tranh bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
- Lênin phân tích, phê phán lý luận nhận thức của chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán và phát triển những vấn đề nhận thức luận duy vật biện chứng.
- sự thống nhất không thể tách rời giữa CNDV biện chứng và CNDV lịch sử, sự thống nhất trong cách giải thích duy vật và tự nhiên, xã hội và về cả tư duy con người.
Lênin đã luận giải về nguyên tắc tính đảng của triết học, về những nguyên tắc sắp xếp và phân loại các trường phái triết học, mối quan hệ của chúng với lợi ích các tập đoàn và giai cấp trong xã hội.
Thứ I
a) Đấu tranh bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
- Hai là, V.I. Lênin đã phân tích sâu sắc về chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, chỉ ra những mâu thuẫn nội tại không thể nào khắc phục được của chủ nghĩa tư bản, đi đến khẳng định khả năng thắng lợi của cách mạng vô sản, về mối quan hệ giữa CMVS và cách mạng giải phóng dân tộc
(mâu thuẩn do xã hội tư bản đẻ ra: bóc lột không công người lao động, tạo ra lò lửa chiến tranh, gây ra nhiều hiểm họa cho nhân loại: môi trường, dịch bệnh... không giải quyết được mà ngày càng gay gắt hơn).
b. Sự vận dụng và phát triển không ngừng của chủ nghĩa Mác- Lênin trong các giai đoạn lịch sử
- Để bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin không chỉ phê phán không khoan nhượng đối với mọi kẻ thù của chủ nghĩa Mác, mà còn kịch liệt phê phán chủ nghĩa xét lại, cơ hội, tả - hữu khuynh, giáo điều, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác . Chính Lênin đã lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân lao động đưa cuộc CM tháng 10 Nga-1917 đến thắng lợi và thu được kết quả bước đầu trong công cuộc xây dựng CNXH ở Liên Xô.
- Những cống hiến vĩ đại của V.I. Lênin cả về lý luận và thực tiễn đã góp phần làm cho hệ thống lý luận của Mác-Ăngghen ngày càng hoàn chỉnh. Để ghi nhận công lao và đóng góp của Lênin, những người cộng sản và giai cấp công nhân quốc tế trân trọng gọi học thuyết đó là Chủ nghĩa Mác-Lênin .
- Nó chứng minh rằng: việc xã hội hóa lao động trong CNTB đã tạo ra cơ sở vật chất chủ yếu cho sự ra đời tất yếu của CNXH; động lực trí tuệ và tinh thần của sự chuyển biến đó là chủ nghĩa Mác – Lênin (cơ sở lý luận) lực lượng xã hội thực hiện sự chuyển biến đó là giai cấp vô sản và nhân dân lao động (cơ sở thực tiễn).
3. Những nội dung chủ yếu thể hiện bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin
a) Chủ nghĩa Mác-Lênin là thành tựu trí tuệ của nhân loại:
Chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời trên cơ sở những tri thức tiên tiến nhất của thời đại về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội.
Kế thừa, tiếp thu và phát triển những thành tựu trí tuệ của nhân loại.
a) Chủ nghĩa Mác-Lênin là thành tựu trí tuệ của nhân loại:
C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I.Lênin đã sáng tạo ra học thuyết khoa học và cách mạng cho giai cấp vô sản - đó là chủ nghĩa xã hội khoa học.
Do vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin là thành tựu trí tuệ chung của nhân loại.
b) Chủ nghĩa Mác-Lênin là học thuyết duy nhất nêu lên mục tiêu chung là GP giai cấp , GPXH, GP con người và chỉ ra lực lượng, con đường, phương thức đạt mục tiêu đó.
Chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ rõ quần chúng nhân dân là chủ nhân của xã hội, là người sáng tạo ra lịch sử. Điều đó đem lại cho loài người, đặc biệt là giai cấp công nhân, nhân dân lao động, những công cụ nhận thức và cải tạo thế giới.
(Quần chúng nhân dân và phật tử biểu tình chống sự đàn áp của chính quyền Ngô Đình Diệm trên đường phố Sài Gòn, năm 1963)
- Chủ nghĩa Mác-Lênin là hệ tư tưởng của giai cấp vô sản, là vũ khí lý luận sắc bén của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp mình, giải phóng toàn xã hội và giải phóng con người.
- Chủ nghĩa duy vật lịch sử (sự phát triển XH), mà cốt lõi là học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, là một thành tựu vĩ đại của triết học Mácxít. Học thuyết về hình thái KT-XH đã chỉ rõ sự chuyển biến từ một hình thái KT-XH này sang một hình thái KT-XH khác diễn ra không phải một cách tự động mà phải trải qua một quá trình đấu tranh giai cấp gay go, quyết liệt. Từ đó nó đã đem lại nhận thức một cách khoa học trong hoạt động tự giác cuả GCCN.
c. Chủ nghĩa Mác-Lênin là hệ thống lý luận toàn diện, học thuyết khoa học, cách mạng hoàn chỉnh
- Quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất thể hiện sự vận động của phương thức sản xuất. Đó là cơ sở để khẳng định sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản, sự thắng lợi tất yếu của chủ nghĩa xã hội.
c. Chủ nghĩa Mác-Lênin là hệ thống lý luận toàn diện, học thuyết khoa học, cách mạng hoàn chỉnh
Bản thân các quy luật, nguyên lý trong chủ nghĩa Mác-Lênin vừa có ý nghĩa thế giới quan, vừa có ý nghĩa phương pháp luận.
Phương pháp luận
PPL đúng đắn giúp xem xét sự vật, hiện tượng một cách khách quan, phân tích cụ thể theo tinh thần biện chứng.
TGQ duy vật biện chứng giúp con người hiểu rõ bản chất của TG là vật chất. Thế giới tự nhiên, xã hội và tư duy vận động, biến đổi theo những quy luật khách quan.
d) Chủ nghĩa Mác-Lênin là sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan khoa học và phương pháp luận mácxít
Thế giới quan
đ) Chủ nghĩa Mác-Lênin là một học thuyết mở, không ngừng tự đổi mới, tự phát triển trong dòng trí tuệ của nhân loại.
- Mang bản chất khoa học, nên chủ nghĩa Mác-Lênin không phải là một hệ thống các nguyên lý giáo điều, bất biến. Giúp con người hiểu rõ bản chất của thế giới là vật chất,(tự nhiên, xã hội) và tư duy của con người vận động, biến đổi theo những quy luật khách quan, con người thông qua hoạt động thực tiễn có thể nhận thức, giải thích và cải tạo thế giới.
- Chính Mác, Ăngghen và Lênin đã nhiều lần khẳng định học thuyết của các ông chưa thực sự hoàn chỉnh, còn nhiều điều các ông chưa có điều kiện, thời gian, cơ hội nghiên cứu.
đ) Chủ nghĩa Mác-Lênin là một học thuyết mở, không ngừng tự đổi mới, tự phát triển trong dòng trí tuệ của nhân loại.
- Toàn bộ học thuyết Mác-Lênin có giá trị bền vững, xét trong tinh thần biện chứng, nhân đạo và hệ thống tư tưởng cốt lõi của nó. Đó là những kết tinh trí tuệ của nhân loại qua các thế hệ nối tiếp nhau, để ngày càng phát triển và hoàn thiện.
đ) Chủ nghĩa Mác-Lênin là một học thuyết mở, không ngừng tự đổi mới, tự phát triển trong dòng trí tuệ của nhân loại.
đ) Chủ nghĩa Mác-Lênin là một học thuyết mở, không ngừng tự đổi mới, phát triển cùng với sự phát triển của tri thức nhân loại.
- Phát triển lý luận Mác-Lênin là trách nhiệm của các thế hệ kế tiếp sau, của những người Mácxít chân chính.
B. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
1. Khái niệm về tư tưởng Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi.
2. Nguồn gốc của tư tưởng Hồ Chí Minh
- Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta.
“Luận cương đến Bác Hồ và người đã khóc
Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lênin
Bốn bức tường im nghe Bác lật từng trang sách gấp Tưởng bên ngoài đất nước đợi mong tin
Bác reo lên một mình như nói cùng đất nước
“Cơm áo là đấy, hạnh phúc đây rồi”
Hình của Đảng lồng trong hình của nước
Phút khóc đầu tiên là phút Bác Hồ cười”.
Người đi tìm hình của nước Chế Lan Viên
- ...phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta
CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN
Từ chủ nghĩa yêu nước, Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, tiếp thu bản chất khoa học và cách mạng của học thuyết này. Từ đó, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin để giải quyết thành công những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
“Chủ nghĩa Mác-Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam không những là cái cẩm nang thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam mà còn là mặt trời soi sáng cho chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”.
(Hồ Chí Minh toàn tập -tập10 tr 128)
“Hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin được”.
(Hồ Chí Minh toàn tập
Tập 12 tr 554)
Nguyên bản tiếng Hán:
南國山河
南 國 山 河 南 帝 居
截 然 定 分 在 天 書
如 何 逆 虜 來 侵 犯
汝 等 行 看 取 敗 虛
Bản dịch thơ:
Sông núi nước Nam
Sông núi nước Nam vua Nam ở,
Rành rành định phận tại sách trời.
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm,
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.
Lịch sử dựng nước và giữ nước lâu đời: truyền thống yêu nước, kiên cường, bất khuất, tương ái, nhân nghĩa, thủy chung.
CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC TRUYỀN THỒNG
Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự kế thừa các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
TƯỢNG THÁNH GIÓNG
Tích Thánh Gióng
“Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của ta từ xưa đến nay. Mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”.
(Hồ Chí Minh toàn tập – Tập 6 tr 171)
Chiến thắng Bạch Đằng 938
Tinh thần đoàn kết tương thân, tương ái, sống nhân nghĩa
Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng.
NHỮNG GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG TRONG GIA ĐÌNH VIỆT NAM
Sống có tình, có nghĩa, có thủy chung, có nhân, có đức, có trước, có sau, biết trung, biết hiếu…
Trí tuệ sáng tạo, quý trọng hiền tài, khiêm tốn, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại…
Tinh hoa văn hóa Phương Đông
“Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo của Jêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng.
- Tư tưởng HCM là kết quả của việc tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại.
Tinh hoa văn hóa Phương Đông
Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Jêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có ưu điểm chung đó sao?
Họ đều mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu cầu hạnh phúc cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, tôi tin rằng họ nhất định sống chung với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm một người học trò nhỏ của các vị ấy”
ĐẠO PHẬT
Phật dạy, trên thế gian này điều duy nhất không thay đổi chính là sự thay đổi...
Phật dạy, phải yêu thương nhau, mọi thù hận, khác biệt sẽ được yêu thương tràn đầy xóa đi tất cả. Thế giới đại đồng.
ĐỨC KHỔNG TỬ
孔子
NHO GIA
NHÂN CHI SƠ, TÍNH BẢN THIỆN
Nói đến Khổng Tử trước hết là nói đến nhà đạo đức, nhà luân lý. Hạt nhân cơ bản của đạo đức Khổng Tử là chữ Nhân và chữ Lễ.
Chữ nhân phương Đông nghiêng về trách nhiệm con người NHÂN – LỄ.
– NGƯỜI QUÂN TỬ -
Đối với mình và đối với người - Đối với mình phải trong sạch, không nghĩ và không làm điều xấu, điều ác, phải giữ đúng lễ. Lễ là hình thức của nội dung nhân.
KẺ CÓ NHÂN CHÍNH LÀ NGƯỜI VẬY
NHÂN VÀ LỄ
Nhân chi sơ 人之初 con người lúc nhỏ
Tính bản thiện 性本善 bản tính vốn thiện
Tính tương cận 性相近 tính gần giống nhau
Tập tương viễn 習相遠 do học tập nên khác nhau
Cầu bất giáo 苟不教 nếu không được dạy
Tính nãi thiên 性乃遷 tính sẽ thay đổi
Giáo chi đạo 教之道 đường lối giáo dục
Quí dĩ chuyên 貴以專 quí ở chỗ chuyên tâm
THOMAS MORE
-Thứ nhất, đó là tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo cộng với sự nhận xét, phê phán tinh tường, sáng suốt trong việc nghiên cứu, tìm hiểu.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của các nhân tố chủ quan thuộc về phẩm chất cá nhân của Người.
Bìa cuốn Ngục trung nhật ký
Gạo đem vào giã bao đau đớn
Gạo giã xong rồi trắng tựa bông
Sống ở trên đời người cũng vậy
Gian nan rèn luyện mới thành công.
- Thứ hai, là sự khổ công học tập nhằm chiếm lĩnh vốn tri thức phong phú của nhân loại, học tập kinh nghiệm đấu tranh của phong trào giải phóng dân tộc, phong trào công nhân quốc tế.
Hồ Chí Minh
Bác ơi tim Bác mênh mông thế.
Ôm cả non sông mọi kiếp người!
(Tố Hữu)
-Thứ ba, là ý chí của một nhà yêu nước, một chiến sĩ cộng sản nhiệt thành cách mạng, một trái tim yêu nước, thương dân, yêu thương những người cùng khổ, sẵn sàng chịu đựng hy sinh vì độc lập của Tổ quốc, vì tự do, hạnh phúc của đồng bào.
Con người ấy bình dị, đời thường, dân dã, mộc mạc trong từng lời nói, cử chỉ, hành động…mà ai ai đã được gặp, được làm việc với Người không thể nào quên…
Một là, tư tưởng về giải phóng dân tộc, GP giai cấp, giải phóng con người.
Hai là, tư tưởng về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Ba là, tư tưởng về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc.
3. Những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh.
3- Những nội dung cơ bản của tư tưởng HCM
Bốn là, tư tưởng về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân.
Năm là, tư tưởng về quốc phòng toàn dân, XD lực lượng vũ trang nhân dân.
Sáu là, tư tưởng về phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Bảy là, Tư tưởng về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.
Tám là, Tư tưởng về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau.
Chín là, Tư tưởng về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là đầy tớ thật trung thành của nhân dân...
3- Những nội dung cơ bản của tư tưởng HCM
III- ĐI LÊN CNXH – SỰ LỰA CHỌN LỊCH SỬ CỦA DÂN TỘC TA
1/ Tính tất yếu khách quan của con đường đi lên CNXH ở nước ta
31/8/1858 thực dân Pháp xâm lược Việt Nam
- Ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, nhân dân ta đã liên tiếp đứng lên đấu tranh chống lại chúng. Từ năm 1858 đến trước 1930, đã có hàng trăm phong trào, cuộc khởi nghĩa oanh liệt.
a. Sự lựa chọn khách quan của lịch sử dân tộc (điều kiện lịch sử của Việt Nam).
Nghĩa quân Trương Công Định
Cuộc khởi nghĩa
(1862 - 1864)
Trương Công Định
Trương Công Định tổ chức lực lượng, triển khai tác chiến trong các vùng Gò Công, Tân An, Mỹ Tho, Chợ Lớn, Sài Gòn, Đồng Tháp Mười kéo dài đến biên giới Campuchia.
Tuyên bố của Trương Công Định trả lời thư dụ hàng của tướng Pháp Bonard vào cuối năm 1862: “Triều đình Huế không nhìn nhận chúng ta, nhưng chúng ta cứ bảo vệ Tổ quốc chúng ta”.
Trương Công Định
Tuyên bố của Trương Công Định gửi các quan ở Vĩnh Long, để tỏ ý ly khai với Nam triều (vì sau hòa ước Nhâm Tuất, vua Tự Đức ra lệnh ông phải bãi binh) vào tháng 2 năm 1863:
Trương Công Định
“Muốn trở lại y như xưa, dân chúng ba tỉnh yêu cầu chúng tôi đứng đầu khởi nghĩa, chúng tôi không thể làm gì khác được.
Pháp chuẩn bị pháo kích Trương Công Định
Chúng tôi sẽ đánh ngã bọn giặc cướp...”
Chúng tôi chuẩn bị chiến đấu vào hướng Đông cũng như hướng Tây, chúng tôi chống đối và chiến đấu.
Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân
(1830-1875)
Anh hùng chống Pháp
Có chí khí giương ra, luống để trăm năm mang miệng thế
Đầu công không đạt được, cũng liều một chết đáp ơn vua.
Nghĩa quân Thủ Khoa Huân
Khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực (1861 – 1868)
Nghĩa quân Nguyễn Trung Trực đốt cháy tàu Hy Vọng của Pháp trên sông Vàm Cỏ Đông (10-12-1861).
1837 - 1868
“Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây”
Nguyễn Tri Phương – vị Tổng đốc “tuẫn tiết” vì Hà Nội
Lời đề từ trên đền thờ ông ở Trung Liệt – Hà Nội:
Kia thành quách, kia non sông, trăm trận phong trần còn thước đất
Là trời sao, là sông núi, mười năm tâm sự với trời xanh
Lời đáp trả đanh thép của ông trước quân giặc khi bị chúng bắt và được chúng chữa trị vết thương càng thổi bùng lên tinh thần “vì việc nghĩa” ở khắp nước Nam: “Bây giờ nếu ta chỉ lăy lắt mà sống, sao bằng thung dung chết về việc nghĩa”.
Hoàng Diệu - vị Tổng đốc trung liệt của Hà Nội
Trước khi tuẫn tiết tại Võ Miếu, ông ào hành cung cắn đầu ngón tay lấy máu thảo di biểu tạ tội với nhà vua:
“Thành mất không sao cứu được, thật hổ với nhân sĩ Bắc thành lúc sinh tiền. Thân chết có quản gì, nguyện theo Nguyễn Tri Phương xuống đất. Quân vương muôn dặm, huyết lệ đôi hàng...”
.
(1829-1882)
“ Một chết đã thành danh, đâu phải anh hùng từng nguyện trước”
Tôn Thất Thuyết – một đại thần nổi tiếng theo đường lối chống Pháp – thương tiếc Hoàng Diệu mà viết lên câu đối: Nhất tử thành danh , tự cổ anh hùng phi sở nguyện. Nghĩa là :
Cụ Phan Bội Châu dựa vào Nhật đuổi Pháp, chẳng khác gì “Đuổi hổ cửa trước rước beo cửa sau”. Chủ trương này không đưa đến thành công.
Cụ Phan chỉ dự cảm được ở cuối đời, cụ than thở: “Một trăm thất bại không một thành công”.
“Chẳng khác nào xin giặc rủ lòng thương"
Cụ Phan Chu Trinh muốn dựa vào chính quyền thực dân Pháp để xóa bỏ chế độ Vua, Quan phong kiến, làm cho dân trí, dân khí phát triển, từ đó xin trao trả độc lập.
Đường lối cải lương, phản đối bạo động, chủ trương dựa vào Pháp đánh đổ phong kiến nhưng không thấy mối quan hệ giữa thực dân Pháp và phong kiến tay sai.
Nguyễn Thái Học
1902 - 1930
Hoàng Hoa Thám
1858 - 1913
Hùm thiêng Yên Thế
(Anh hùng kiệt xuất)
Không thành công thì cũng thành nhân
Cụ Hoàng Hoa Thám biết dựa vào nông dân khởi nghĩa vũ trang đánh Pháp, như thế về phương pháp thì có thực tế hơn nhưng vẫn mang năng cốt cách phong kiến nên không thể thành công.
Tóm lại, từ năm 1858 đến 1930, đã có hàng trăm cuộc khởi nghĩa, phong trào yêu nước dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu, các nhân sĩ, trí thức, nông dân, binh lính yêu nước diễn ra theo nhiều khuynh hướng chính trị khác nhau
- Dù tràn đầy lòng yêu nước, đức hy sinh, nhưng các cuộc khởi nghĩa, các phong trào đó đều bị thực dân Pháp đàn áp tàn bạo và thất bại.
Không có đường lối cách mạng đúng đắn
Không có
một hệ tư tưởng tiên tiến, khoa học và cách mạng
Tại sao các phong trào, các cuộc đấu tranh nổ ra liên tiếp, nhưng đều thất bại?
NGUYÊN NHÂN
- Tháng 6-1911 người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước
Vượt lên trên các vị tiền bối, Nguyễn Ái Quốc (HCM) đã tìm ra con đường cứu nước mới giải phóng dân tộc theo lập trường của giai cấp công nhân.
- Vào tháng 7 năm 1920, Người đọc bản sơ thảo lần thứ nhất luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin.
Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội Tua 1920
+ Từ đây, Người đã tìm thấy con đường duy nhất đúng đắn để cứu nước, cứu dân.
Bác Hồ khẳng định:
“Chỉ có giải phóng giai cấp Vô sản thì mới giải phóng được dân tộc”, “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường CM vô sản”
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn của lịch sử Việt Nam, của toàn dân tộc Việt Nam.
“Cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn”.
b) Sự lựa chọn khách quan của thời đại
(điều kiện lịch sử thế giới)
Một là, cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm 1917 thành công đã mở ra thời đại mới – thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới (CM tháng 10 Nga thành công đã ảnh hưởng rất lớn đến xu hướng hoat động của Người.)
Hai là, chỉ có chủ nghĩa xã hội mới giải phóng triệt để giai cấp vô sản và nhân dân lao động khỏi ách áp bức, bóc lột, bất công... mới đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân và đưa nhân dân lao động trở thành những người làm chủ xã hội.
Độc lập dân tộc chỉ có gắn liền với CNXH mới vững chắc, Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và CNXH là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc.
2. Thực tiễn cách mạng nước ta từ khi có Đảng Cộng sản lãnh đạo đã khẳng định: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn
Một là, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Bác và chính phủ lâm thời VNDCCH 1946
Hai là, thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt để giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, đánh thắng chủ nghĩa thực dân cũ và mới, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất Tổ quốc,
Bác đi duyệt binh tháng 12.1954
đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Ba là, thắng lợi to lớn và có ý nghĩa lịch sử của sự nghiệp đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, đưa đất nước từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội với mục tiêu:
“dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; củng cố vững chắc hơn độc lập dân tộc, từng bước đưa nước ta lên chủ nghĩa xã hội.
Đại hội XI của Đảng đã khẳng định: “Qua tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, chúng ta càng thấy rõ ý nghĩa lịch sử và giá trị định hướng, chỉ đạo to lớn của Cương lĩnh đối với công cuộc đổi mới theo con đường xã hội chủ nghĩa ở nước ta; đồng thời cũng thấy rõ thêm những vấn đề mới đặt ra cần tiếp tục được giải đáp”.
www.themegallery.com
3- Những nội dung cơ bản của con đường đi lên CNXH ở nước ta
Kế thừa Đại hội X, Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định: Để thực hiện thành công mục tiêu tổng quát, mục tiêu đến giữa thế kỷ XXI tới,
toàn Đảng, toàn dân ta cần nêu cao tinh thần cách mạng tiến công, ý chí tự lực tự cường, phát huy mọi tiềm năng và trí tuệ, tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, quán triệt và thực hiện tốt các phương hướng cơ bản sau đây:
Phương hướng cơ bản xây dựng chủ nghĩa xã hội trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011)
“Một là, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường.
Một là, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường.
Tiến hành công nghiệp hóa là một nhiệm vụ tất yếu của những nước chưa có chủ nghĩa tư bản phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội. Đó là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Từ một nền sản xuất nhỏ, nông nghiệp lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã hội, Việt Nam tất yếu phải tiến hành công nghiệp hóa.
Trong thời đại bùng nổ cách mạng khoa học và công nghệ, công nghiệp hóa phải kết hợp ngay từ đầu với hiện đại hóa, gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên môi trường.
Phương hướng cơ bản xây dựng chủ nghĩa xã hội trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011)
Hai là, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là bước phát triển mới về lý luận của Đảng ta trong quá trình đổi mới. Đây là sự vận dụng sáng tạo từ những chỉ dẫn của chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, đặc biệt những chỉ dẫn của V.I. Lênin trong Chính sách kinh tế mới (NEP); đồng thời xuất phát từ tổng kết thực tiễn Việt Nam giai đoạn vừa qua.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xác định là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường thể hiện qua các đặc trưng cơ bản là:
Về sở hữu và các thành phần kinh tế:
Về phân phối:
Về quản lý:
Phương hướng cơ bản xây dựng chủ nghĩa xã hội trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011)
Ba là, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.
LỄ HỘI MẠC CỬU-HÀ TIÊN
HÁT QUAN HỌ
VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG
www.themegallery.com
Ba là, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.
Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, văn hóa hiểu theo nghĩa chung là toàn bộ giá trị của đời sống xã hội. Để xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, phải lấy văn hóa làm nền tảng tinh thần.
Đại hội XI khẳng định: "Xâydựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển“.
Phương hướng cơ bản xây dựng chủ nghĩa xã hội trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011)
Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự và an toàn xã hội.
Củng cố, giữ vững độc lập, tạo điều kiện để xây dựng CNXH.
Xây dựng CNXH lại tạo ra cơ sở vật chất và tinh thần để bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN.
www.themegallery.com
Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
Dựng nước gắn liền với giữ nước là quy luật lịch sử của dân tộc ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: Các vua Hùng đã có công dựng nước. Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước. Trong thời kỳ phát triển mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Bảo đảm an ninh quốc gia ngày nay bao gồm: an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng văn hóa, an ninh xã hội. Bảo vệ Tổ quốc ngày nay không chỉ là bảo vệ lãnh thổ, biên giới, hải đảo, vùng trời, vùng biển mà còn là bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân; bảo vệ kinh tế, văn hóa dân tộc, sự nghiệp đổi mới.
Năm là, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.
Phương hướng cơ bản xây dựng chủ nghĩa xã hội trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011)
Năm là, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.
Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh;
là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. Đây là sự vận dụng sáng tạo bài học kinh nghiệm lớn của Đảng ta về phát huy sức mạnh của dân tộc và thời đại trong hoàn cảnh hiện nay.
Sáu là, xây dựng nền dân chủ XHCN, thực hiện đại ĐK toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất.
Phương hướng cơ bản xây dựng chủ nghĩa xã hội trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011)
www.themegallery.com
Sáu là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất.
Dân chủ là bản chất của chủ nghĩa xã hội. Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân là bản chất của chế độ xã hội ở nước ta Dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Phát huy dân chủ gắn liền với phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất.
Thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các hình thức thực hành dân chủ: dân chủ đại diện, dân chủ trực tiếp ở cơ sở và tự quản trong các cộng đồng dân cư.
Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vừa là ng
TRUNG TÂM BỒI DƯỠNG CHÍNH TRỊ GIANG THÀNH
CHUYÊN ĐỀ 1
CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH - NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG VÀ KIM CHỈ NAM CHO HÀNH ĐỘNG CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG
A- Chủ nghĩa Mác - Lênin
B- Tư tưởng Hồ Chí Minh
NỘI DUNG BÀI HỌC: GỒM 2 PHẦN
- Học viên hiểu được những kiến thức cơ bản về sự ra đời của chủ nghĩa Mác - Lênin;
- Khái niệm, nguồn gốc, quá trình hình thành, phát triển và giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Từ đó, giúp các đồng chí học viên nâng cao nhận thức về chính trị tư tưởng. Trên cơ sở đó, vận dụng kiến thức đã học vào hoạt động thực tiễn của cơ quan, đơn vị và bản thân.
* MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU
- Chủ nghĩa Mác - Lênin - kết quả kế thừa, phát triển tinh hoa trí tuệ của loài người; Bản chất khoa học, cách mạng và giá trị của chủ nghĩa Mác – Lênin.
A- CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
I- SỰ RA ĐỜI CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
C. Mác
(5/5/1818-14/3/1883)
Ph. Ăngghen
(28/11/1820-5/8/1895)
V.I. Lênin
(22/4/1870-21/1/1924)
2- Tiền đề khoa học và lý luận:
3- Tiền đề thực tiễn
1- Tiền đề kinh tế - chính trị
1- Tiền đề kinh tế - chính trị
www.themegallery.com
- Tiền đề trước hết dẫn đến sự ra đời của chủ nghĩa Mác – Lênin là sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
*Về KT-XH
G.Oát (1736 - 1819)- người hoàn thành việc phát minh ra máy hơi nước
Máy kéo sợi Gien ny
Xe lửa Xti phen xơ
Mâu thuẫn cơ bản của xã hội tư bản là giữa tính chất xã hội hoá của lực lượng sản xuất với hình thức chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất trong xã hội tư bản ngày càng phát triển trở thành mâu thuẫn chủ yếu của xã hội tư bản.
*Về KT-XH
1- Tiền đề kinh tế - chính trị
+ Phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản ngày càng lan rộng, phát triển từ tự phát tới tự giác, từ đấu tranh kinh tế tới đấu tranh chính trị, cần có lý luận khoa học và CM dẫn dắt, soi đường. CNXH khoa học do C.Mác và Ph.Ăngghen sáng lập đã đáp ứng những yêu cầu cấp thiết đó .
*Sự xuất hiện GCVS
1- Tiền đề kinh tế - chính trị
Chủ nghĩa Mác – Lênin là sự kế thừa và phát triển những thành tựu quan trọng nhất của tư duy lý luận, từ tư duy triết học cho đến các khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.
2- Về tiền đề khoa học và lý luận :
Về khoa học tự nhiên: Vào giữa TK XIX đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, trong đó có ba phát minh quan trọng.
* Quy luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng
* Học thuyết tế bào
* Thuyết tiến hóa của Đác-uyn
* Quy luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng
Giulơ (1818 – 1889)
Nhà Vật lý nước Anh
Lômônôxốp
Định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng: VC luôn vận động, tồn tại vô hạn, vô tận.
2- Tiền đề khoa học và lý luận:
* Học thuyết tế bào
2- Tiền đề khoa học và lý luận:
Thuyết tế bào: tính thống nhất VC của thế giới và nguyên lý sự phát triển
Thuyết tiến hóa của Đác-uyn
2- Tiền đề khoa học và lý luận:
Thuyết tiến hoá của Darwin: mối liên hệ phổ biến
Thuyết tiến hóa của Đác-uyn
2- Tiền đề khoa học và lý luận:
Thuyết tiến hoá của Darwin: mối liên hệ phổ biến
*Triết học cổ điển Đức Đặc biệt là G. V. Ph. Hêghen (1770 – 1831) và
L.Phoiơbắc (1804– 1872)
Về lý luận, có những thành tựu của triết học cổ điển Đức, tiêu biểu là :
2- Tiền đề khoa học và lý luận:
Triết học cổ điển Đức đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác, đặc biệt là triết học của Hêghen và Phoiơbắc.
* Kinh tế chính trị cổ điển Anh (Với hai đại biểu tiêu biểu: A.đam Xmít, 1723 – 1790 và Đavit Ricácđô, 1772 - 1823)
Về lý luận: Kinh tế chính trị cổ điển Anh Là những người có công lao lớn trong việc xây dựng lý luận về giá trị của lao động.
2- Tiền đề khoa học và lý luận:
Xanh Ximông
* Chủ nghĩa xã hội không tưởng đầu TK XIX (Với ba đại biểu xuất sắc: Xanh Ximông, 1760 – 1825, Sáclơ Phuriê, 1772 – 1837, Rôbớc Ôoen, 1771 -1858)
+ Về lý luận: Chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp, Anh thế kỷ XIX đã có một quá trình lịch sử phát triển lâu dài và đạt đến đỉnh cao của nó.
2- Tiền đề khoa học và lý luận:
3- Tiền đề thực tiễn
Sự phát triển của nền đại công nghiệp đã sản sinh ra một giai cấp mới đó là giai cấp công nhân. Trong xã hội TBCN đã xuất hiện hai giai cấp cơ bản, đối lập nhau về lợi ích là giai cấp tư sản và giai cấp vô sản.
Phong trào công nhân cần một hệ tư tưởng soi đường, Chủ nghĩa Mác ra đời đã đáp ứng được yêu cầu đó.
Tóm lại, dựa trên những tiền đề khoa học và lý luận, nhằm đáp ứng những yêu cầu cấp thiết trong cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân. C. Mác và Ph. Ăngghen đã kế thừa, tiếp thu có chọn lọc và phát triển những tiền đề lý luận trên để sáng tạo ra học thuyết khoa học và cách mạng cho giai cấp vô sản.
C. Mác và Ph. Ăngghen
II- CHỦ NGHĨA MÁC – LENIN – KẾT QUẢ KẾ THỪA, PHÁT TRIỂN TINH HOA TRÍ TUỆ CỦA LOÀI NGƯỜI
Chủ nghĩa Mác - Lênin thực chất là “chủ nghĩa công sản khoa học theo nghĩa rộng”, một hệ thống lý luận thống nhất gồm ba bộ phận: triết học Mác - Lênin, kinh tế chính trị Mác - Lênin và chủ nghĩa xã hội khoa học
1- Ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác - Lênin
1.1. Triết học Mác - Lênin (bao gồm chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử):
Là khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy. Triết học Mác-Lênin đem lại cho con người thế giới quan khoa học và phương pháp luận đúng đắn để nhận thức và cải tạo thế giới.
1.1. Triết học Mác - Lênin (bao gồm chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử):
1.2. Kinh tế chính trị Mác – Lênin
- Nghiên cứu PTSX tư bản chủ nghĩa, chỉ rõ bản chất bóc lột của QHSX tư bản chủ nghĩa.
- Nghiên cứu những quy luật phát triển của QHSX XHCN, xây dựng một xã hội không có áp bức, bất công, vì tự do, ấm no, hạnh phúc cho mọi người.
- Là khoa học nghiên cứu giữa người với người trong quá trình sản xuất của cải vật chất
c) Chủ nghĩa xã hội khoa học
- Nghiên cứu những quy luật chuyển biến từ xã hội TBCN lên xã hội XHCN
- Nó chứng minh rằng: việc xã hội hóa lao động trong CNTB đã tạo ra cơ sở vật chất chủ yếu cho sự ra đời tất yếu của CNXH.
- Động lực trí tuệ và tinh thần của sự chuyển biến đó là chủ nghĩa Mác – Lênin (cơ sở lý luận) lực lượng xã hội thực hiện sự chuyển biến đó là giai cấp vô sản và nhân dân lao động (cơ sở thực tiễn).
a) Đấu tranh bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
2- Sự bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác của V.I. Lênin
a) Đấu tranh bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
- Lênin phân tích, phê phán lý luận nhận thức của chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán và phát triển những vấn đề nhận thức luận duy vật biện chứng.
- sự thống nhất không thể tách rời giữa CNDV biện chứng và CNDV lịch sử, sự thống nhất trong cách giải thích duy vật và tự nhiên, xã hội và về cả tư duy con người.
Lênin đã luận giải về nguyên tắc tính đảng của triết học, về những nguyên tắc sắp xếp và phân loại các trường phái triết học, mối quan hệ của chúng với lợi ích các tập đoàn và giai cấp trong xã hội.
Thứ I
a) Đấu tranh bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
- Hai là, V.I. Lênin đã phân tích sâu sắc về chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, chỉ ra những mâu thuẫn nội tại không thể nào khắc phục được của chủ nghĩa tư bản, đi đến khẳng định khả năng thắng lợi của cách mạng vô sản, về mối quan hệ giữa CMVS và cách mạng giải phóng dân tộc
(mâu thuẩn do xã hội tư bản đẻ ra: bóc lột không công người lao động, tạo ra lò lửa chiến tranh, gây ra nhiều hiểm họa cho nhân loại: môi trường, dịch bệnh... không giải quyết được mà ngày càng gay gắt hơn).
b. Sự vận dụng và phát triển không ngừng của chủ nghĩa Mác- Lênin trong các giai đoạn lịch sử
- Để bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin không chỉ phê phán không khoan nhượng đối với mọi kẻ thù của chủ nghĩa Mác, mà còn kịch liệt phê phán chủ nghĩa xét lại, cơ hội, tả - hữu khuynh, giáo điều, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác . Chính Lênin đã lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân lao động đưa cuộc CM tháng 10 Nga-1917 đến thắng lợi và thu được kết quả bước đầu trong công cuộc xây dựng CNXH ở Liên Xô.
- Những cống hiến vĩ đại của V.I. Lênin cả về lý luận và thực tiễn đã góp phần làm cho hệ thống lý luận của Mác-Ăngghen ngày càng hoàn chỉnh. Để ghi nhận công lao và đóng góp của Lênin, những người cộng sản và giai cấp công nhân quốc tế trân trọng gọi học thuyết đó là Chủ nghĩa Mác-Lênin .
- Nó chứng minh rằng: việc xã hội hóa lao động trong CNTB đã tạo ra cơ sở vật chất chủ yếu cho sự ra đời tất yếu của CNXH; động lực trí tuệ và tinh thần của sự chuyển biến đó là chủ nghĩa Mác – Lênin (cơ sở lý luận) lực lượng xã hội thực hiện sự chuyển biến đó là giai cấp vô sản và nhân dân lao động (cơ sở thực tiễn).
3. Những nội dung chủ yếu thể hiện bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin
a) Chủ nghĩa Mác-Lênin là thành tựu trí tuệ của nhân loại:
Chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời trên cơ sở những tri thức tiên tiến nhất của thời đại về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội.
Kế thừa, tiếp thu và phát triển những thành tựu trí tuệ của nhân loại.
a) Chủ nghĩa Mác-Lênin là thành tựu trí tuệ của nhân loại:
C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I.Lênin đã sáng tạo ra học thuyết khoa học và cách mạng cho giai cấp vô sản - đó là chủ nghĩa xã hội khoa học.
Do vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin là thành tựu trí tuệ chung của nhân loại.
b) Chủ nghĩa Mác-Lênin là học thuyết duy nhất nêu lên mục tiêu chung là GP giai cấp , GPXH, GP con người và chỉ ra lực lượng, con đường, phương thức đạt mục tiêu đó.
Chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ rõ quần chúng nhân dân là chủ nhân của xã hội, là người sáng tạo ra lịch sử. Điều đó đem lại cho loài người, đặc biệt là giai cấp công nhân, nhân dân lao động, những công cụ nhận thức và cải tạo thế giới.
(Quần chúng nhân dân và phật tử biểu tình chống sự đàn áp của chính quyền Ngô Đình Diệm trên đường phố Sài Gòn, năm 1963)
- Chủ nghĩa Mác-Lênin là hệ tư tưởng của giai cấp vô sản, là vũ khí lý luận sắc bén của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp mình, giải phóng toàn xã hội và giải phóng con người.
- Chủ nghĩa duy vật lịch sử (sự phát triển XH), mà cốt lõi là học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, là một thành tựu vĩ đại của triết học Mácxít. Học thuyết về hình thái KT-XH đã chỉ rõ sự chuyển biến từ một hình thái KT-XH này sang một hình thái KT-XH khác diễn ra không phải một cách tự động mà phải trải qua một quá trình đấu tranh giai cấp gay go, quyết liệt. Từ đó nó đã đem lại nhận thức một cách khoa học trong hoạt động tự giác cuả GCCN.
c. Chủ nghĩa Mác-Lênin là hệ thống lý luận toàn diện, học thuyết khoa học, cách mạng hoàn chỉnh
- Quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất thể hiện sự vận động của phương thức sản xuất. Đó là cơ sở để khẳng định sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản, sự thắng lợi tất yếu của chủ nghĩa xã hội.
c. Chủ nghĩa Mác-Lênin là hệ thống lý luận toàn diện, học thuyết khoa học, cách mạng hoàn chỉnh
Bản thân các quy luật, nguyên lý trong chủ nghĩa Mác-Lênin vừa có ý nghĩa thế giới quan, vừa có ý nghĩa phương pháp luận.
Phương pháp luận
PPL đúng đắn giúp xem xét sự vật, hiện tượng một cách khách quan, phân tích cụ thể theo tinh thần biện chứng.
TGQ duy vật biện chứng giúp con người hiểu rõ bản chất của TG là vật chất. Thế giới tự nhiên, xã hội và tư duy vận động, biến đổi theo những quy luật khách quan.
d) Chủ nghĩa Mác-Lênin là sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan khoa học và phương pháp luận mácxít
Thế giới quan
đ) Chủ nghĩa Mác-Lênin là một học thuyết mở, không ngừng tự đổi mới, tự phát triển trong dòng trí tuệ của nhân loại.
- Mang bản chất khoa học, nên chủ nghĩa Mác-Lênin không phải là một hệ thống các nguyên lý giáo điều, bất biến. Giúp con người hiểu rõ bản chất của thế giới là vật chất,(tự nhiên, xã hội) và tư duy của con người vận động, biến đổi theo những quy luật khách quan, con người thông qua hoạt động thực tiễn có thể nhận thức, giải thích và cải tạo thế giới.
- Chính Mác, Ăngghen và Lênin đã nhiều lần khẳng định học thuyết của các ông chưa thực sự hoàn chỉnh, còn nhiều điều các ông chưa có điều kiện, thời gian, cơ hội nghiên cứu.
đ) Chủ nghĩa Mác-Lênin là một học thuyết mở, không ngừng tự đổi mới, tự phát triển trong dòng trí tuệ của nhân loại.
- Toàn bộ học thuyết Mác-Lênin có giá trị bền vững, xét trong tinh thần biện chứng, nhân đạo và hệ thống tư tưởng cốt lõi của nó. Đó là những kết tinh trí tuệ của nhân loại qua các thế hệ nối tiếp nhau, để ngày càng phát triển và hoàn thiện.
đ) Chủ nghĩa Mác-Lênin là một học thuyết mở, không ngừng tự đổi mới, tự phát triển trong dòng trí tuệ của nhân loại.
đ) Chủ nghĩa Mác-Lênin là một học thuyết mở, không ngừng tự đổi mới, phát triển cùng với sự phát triển của tri thức nhân loại.
- Phát triển lý luận Mác-Lênin là trách nhiệm của các thế hệ kế tiếp sau, của những người Mácxít chân chính.
B. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
1. Khái niệm về tư tưởng Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi.
2. Nguồn gốc của tư tưởng Hồ Chí Minh
- Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta.
“Luận cương đến Bác Hồ và người đã khóc
Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lênin
Bốn bức tường im nghe Bác lật từng trang sách gấp Tưởng bên ngoài đất nước đợi mong tin
Bác reo lên một mình như nói cùng đất nước
“Cơm áo là đấy, hạnh phúc đây rồi”
Hình của Đảng lồng trong hình của nước
Phút khóc đầu tiên là phút Bác Hồ cười”.
Người đi tìm hình của nước Chế Lan Viên
- ...phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta
CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN
Từ chủ nghĩa yêu nước, Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, tiếp thu bản chất khoa học và cách mạng của học thuyết này. Từ đó, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin để giải quyết thành công những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
“Chủ nghĩa Mác-Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam không những là cái cẩm nang thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam mà còn là mặt trời soi sáng cho chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”.
(Hồ Chí Minh toàn tập -tập10 tr 128)
“Hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin được”.
(Hồ Chí Minh toàn tập
Tập 12 tr 554)
Nguyên bản tiếng Hán:
南國山河
南 國 山 河 南 帝 居
截 然 定 分 在 天 書
如 何 逆 虜 來 侵 犯
汝 等 行 看 取 敗 虛
Bản dịch thơ:
Sông núi nước Nam
Sông núi nước Nam vua Nam ở,
Rành rành định phận tại sách trời.
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm,
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.
Lịch sử dựng nước và giữ nước lâu đời: truyền thống yêu nước, kiên cường, bất khuất, tương ái, nhân nghĩa, thủy chung.
CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC TRUYỀN THỒNG
Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự kế thừa các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
TƯỢNG THÁNH GIÓNG
Tích Thánh Gióng
“Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của ta từ xưa đến nay. Mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”.
(Hồ Chí Minh toàn tập – Tập 6 tr 171)
Chiến thắng Bạch Đằng 938
Tinh thần đoàn kết tương thân, tương ái, sống nhân nghĩa
Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng.
NHỮNG GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG TRONG GIA ĐÌNH VIỆT NAM
Sống có tình, có nghĩa, có thủy chung, có nhân, có đức, có trước, có sau, biết trung, biết hiếu…
Trí tuệ sáng tạo, quý trọng hiền tài, khiêm tốn, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại…
Tinh hoa văn hóa Phương Đông
“Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo của Jêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng.
- Tư tưởng HCM là kết quả của việc tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại.
Tinh hoa văn hóa Phương Đông
Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Jêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có ưu điểm chung đó sao?
Họ đều mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu cầu hạnh phúc cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, tôi tin rằng họ nhất định sống chung với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm một người học trò nhỏ của các vị ấy”
ĐẠO PHẬT
Phật dạy, trên thế gian này điều duy nhất không thay đổi chính là sự thay đổi...
Phật dạy, phải yêu thương nhau, mọi thù hận, khác biệt sẽ được yêu thương tràn đầy xóa đi tất cả. Thế giới đại đồng.
ĐỨC KHỔNG TỬ
孔子
NHO GIA
NHÂN CHI SƠ, TÍNH BẢN THIỆN
Nói đến Khổng Tử trước hết là nói đến nhà đạo đức, nhà luân lý. Hạt nhân cơ bản của đạo đức Khổng Tử là chữ Nhân và chữ Lễ.
Chữ nhân phương Đông nghiêng về trách nhiệm con người NHÂN – LỄ.
– NGƯỜI QUÂN TỬ -
Đối với mình và đối với người - Đối với mình phải trong sạch, không nghĩ và không làm điều xấu, điều ác, phải giữ đúng lễ. Lễ là hình thức của nội dung nhân.
KẺ CÓ NHÂN CHÍNH LÀ NGƯỜI VẬY
NHÂN VÀ LỄ
Nhân chi sơ 人之初 con người lúc nhỏ
Tính bản thiện 性本善 bản tính vốn thiện
Tính tương cận 性相近 tính gần giống nhau
Tập tương viễn 習相遠 do học tập nên khác nhau
Cầu bất giáo 苟不教 nếu không được dạy
Tính nãi thiên 性乃遷 tính sẽ thay đổi
Giáo chi đạo 教之道 đường lối giáo dục
Quí dĩ chuyên 貴以專 quí ở chỗ chuyên tâm
THOMAS MORE
-Thứ nhất, đó là tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo cộng với sự nhận xét, phê phán tinh tường, sáng suốt trong việc nghiên cứu, tìm hiểu.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của các nhân tố chủ quan thuộc về phẩm chất cá nhân của Người.
Bìa cuốn Ngục trung nhật ký
Gạo đem vào giã bao đau đớn
Gạo giã xong rồi trắng tựa bông
Sống ở trên đời người cũng vậy
Gian nan rèn luyện mới thành công.
- Thứ hai, là sự khổ công học tập nhằm chiếm lĩnh vốn tri thức phong phú của nhân loại, học tập kinh nghiệm đấu tranh của phong trào giải phóng dân tộc, phong trào công nhân quốc tế.
Hồ Chí Minh
Bác ơi tim Bác mênh mông thế.
Ôm cả non sông mọi kiếp người!
(Tố Hữu)
-Thứ ba, là ý chí của một nhà yêu nước, một chiến sĩ cộng sản nhiệt thành cách mạng, một trái tim yêu nước, thương dân, yêu thương những người cùng khổ, sẵn sàng chịu đựng hy sinh vì độc lập của Tổ quốc, vì tự do, hạnh phúc của đồng bào.
Con người ấy bình dị, đời thường, dân dã, mộc mạc trong từng lời nói, cử chỉ, hành động…mà ai ai đã được gặp, được làm việc với Người không thể nào quên…
Một là, tư tưởng về giải phóng dân tộc, GP giai cấp, giải phóng con người.
Hai là, tư tưởng về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Ba là, tư tưởng về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc.
3. Những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh.
3- Những nội dung cơ bản của tư tưởng HCM
Bốn là, tư tưởng về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân.
Năm là, tư tưởng về quốc phòng toàn dân, XD lực lượng vũ trang nhân dân.
Sáu là, tư tưởng về phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Bảy là, Tư tưởng về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.
Tám là, Tư tưởng về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau.
Chín là, Tư tưởng về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là đầy tớ thật trung thành của nhân dân...
3- Những nội dung cơ bản của tư tưởng HCM
III- ĐI LÊN CNXH – SỰ LỰA CHỌN LỊCH SỬ CỦA DÂN TỘC TA
1/ Tính tất yếu khách quan của con đường đi lên CNXH ở nước ta
31/8/1858 thực dân Pháp xâm lược Việt Nam
- Ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, nhân dân ta đã liên tiếp đứng lên đấu tranh chống lại chúng. Từ năm 1858 đến trước 1930, đã có hàng trăm phong trào, cuộc khởi nghĩa oanh liệt.
a. Sự lựa chọn khách quan của lịch sử dân tộc (điều kiện lịch sử của Việt Nam).
Nghĩa quân Trương Công Định
Cuộc khởi nghĩa
(1862 - 1864)
Trương Công Định
Trương Công Định tổ chức lực lượng, triển khai tác chiến trong các vùng Gò Công, Tân An, Mỹ Tho, Chợ Lớn, Sài Gòn, Đồng Tháp Mười kéo dài đến biên giới Campuchia.
Tuyên bố của Trương Công Định trả lời thư dụ hàng của tướng Pháp Bonard vào cuối năm 1862: “Triều đình Huế không nhìn nhận chúng ta, nhưng chúng ta cứ bảo vệ Tổ quốc chúng ta”.
Trương Công Định
Tuyên bố của Trương Công Định gửi các quan ở Vĩnh Long, để tỏ ý ly khai với Nam triều (vì sau hòa ước Nhâm Tuất, vua Tự Đức ra lệnh ông phải bãi binh) vào tháng 2 năm 1863:
Trương Công Định
“Muốn trở lại y như xưa, dân chúng ba tỉnh yêu cầu chúng tôi đứng đầu khởi nghĩa, chúng tôi không thể làm gì khác được.
Pháp chuẩn bị pháo kích Trương Công Định
Chúng tôi sẽ đánh ngã bọn giặc cướp...”
Chúng tôi chuẩn bị chiến đấu vào hướng Đông cũng như hướng Tây, chúng tôi chống đối và chiến đấu.
Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân
(1830-1875)
Anh hùng chống Pháp
Có chí khí giương ra, luống để trăm năm mang miệng thế
Đầu công không đạt được, cũng liều một chết đáp ơn vua.
Nghĩa quân Thủ Khoa Huân
Khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực (1861 – 1868)
Nghĩa quân Nguyễn Trung Trực đốt cháy tàu Hy Vọng của Pháp trên sông Vàm Cỏ Đông (10-12-1861).
1837 - 1868
“Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây”
Nguyễn Tri Phương – vị Tổng đốc “tuẫn tiết” vì Hà Nội
Lời đề từ trên đền thờ ông ở Trung Liệt – Hà Nội:
Kia thành quách, kia non sông, trăm trận phong trần còn thước đất
Là trời sao, là sông núi, mười năm tâm sự với trời xanh
Lời đáp trả đanh thép của ông trước quân giặc khi bị chúng bắt và được chúng chữa trị vết thương càng thổi bùng lên tinh thần “vì việc nghĩa” ở khắp nước Nam: “Bây giờ nếu ta chỉ lăy lắt mà sống, sao bằng thung dung chết về việc nghĩa”.
Hoàng Diệu - vị Tổng đốc trung liệt của Hà Nội
Trước khi tuẫn tiết tại Võ Miếu, ông ào hành cung cắn đầu ngón tay lấy máu thảo di biểu tạ tội với nhà vua:
“Thành mất không sao cứu được, thật hổ với nhân sĩ Bắc thành lúc sinh tiền. Thân chết có quản gì, nguyện theo Nguyễn Tri Phương xuống đất. Quân vương muôn dặm, huyết lệ đôi hàng...”
.
(1829-1882)
“ Một chết đã thành danh, đâu phải anh hùng từng nguyện trước”
Tôn Thất Thuyết – một đại thần nổi tiếng theo đường lối chống Pháp – thương tiếc Hoàng Diệu mà viết lên câu đối: Nhất tử thành danh , tự cổ anh hùng phi sở nguyện. Nghĩa là :
Cụ Phan Bội Châu dựa vào Nhật đuổi Pháp, chẳng khác gì “Đuổi hổ cửa trước rước beo cửa sau”. Chủ trương này không đưa đến thành công.
Cụ Phan chỉ dự cảm được ở cuối đời, cụ than thở: “Một trăm thất bại không một thành công”.
“Chẳng khác nào xin giặc rủ lòng thương"
Cụ Phan Chu Trinh muốn dựa vào chính quyền thực dân Pháp để xóa bỏ chế độ Vua, Quan phong kiến, làm cho dân trí, dân khí phát triển, từ đó xin trao trả độc lập.
Đường lối cải lương, phản đối bạo động, chủ trương dựa vào Pháp đánh đổ phong kiến nhưng không thấy mối quan hệ giữa thực dân Pháp và phong kiến tay sai.
Nguyễn Thái Học
1902 - 1930
Hoàng Hoa Thám
1858 - 1913
Hùm thiêng Yên Thế
(Anh hùng kiệt xuất)
Không thành công thì cũng thành nhân
Cụ Hoàng Hoa Thám biết dựa vào nông dân khởi nghĩa vũ trang đánh Pháp, như thế về phương pháp thì có thực tế hơn nhưng vẫn mang năng cốt cách phong kiến nên không thể thành công.
Tóm lại, từ năm 1858 đến 1930, đã có hàng trăm cuộc khởi nghĩa, phong trào yêu nước dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu, các nhân sĩ, trí thức, nông dân, binh lính yêu nước diễn ra theo nhiều khuynh hướng chính trị khác nhau
- Dù tràn đầy lòng yêu nước, đức hy sinh, nhưng các cuộc khởi nghĩa, các phong trào đó đều bị thực dân Pháp đàn áp tàn bạo và thất bại.
Không có đường lối cách mạng đúng đắn
Không có
một hệ tư tưởng tiên tiến, khoa học và cách mạng
Tại sao các phong trào, các cuộc đấu tranh nổ ra liên tiếp, nhưng đều thất bại?
NGUYÊN NHÂN
- Tháng 6-1911 người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước
Vượt lên trên các vị tiền bối, Nguyễn Ái Quốc (HCM) đã tìm ra con đường cứu nước mới giải phóng dân tộc theo lập trường của giai cấp công nhân.
- Vào tháng 7 năm 1920, Người đọc bản sơ thảo lần thứ nhất luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin.
Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội Tua 1920
+ Từ đây, Người đã tìm thấy con đường duy nhất đúng đắn để cứu nước, cứu dân.
Bác Hồ khẳng định:
“Chỉ có giải phóng giai cấp Vô sản thì mới giải phóng được dân tộc”, “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường CM vô sản”
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn của lịch sử Việt Nam, của toàn dân tộc Việt Nam.
“Cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn”.
b) Sự lựa chọn khách quan của thời đại
(điều kiện lịch sử thế giới)
Một là, cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm 1917 thành công đã mở ra thời đại mới – thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới (CM tháng 10 Nga thành công đã ảnh hưởng rất lớn đến xu hướng hoat động của Người.)
Hai là, chỉ có chủ nghĩa xã hội mới giải phóng triệt để giai cấp vô sản và nhân dân lao động khỏi ách áp bức, bóc lột, bất công... mới đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân và đưa nhân dân lao động trở thành những người làm chủ xã hội.
Độc lập dân tộc chỉ có gắn liền với CNXH mới vững chắc, Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và CNXH là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc.
2. Thực tiễn cách mạng nước ta từ khi có Đảng Cộng sản lãnh đạo đã khẳng định: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn
Một là, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Bác và chính phủ lâm thời VNDCCH 1946
Hai là, thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt để giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, đánh thắng chủ nghĩa thực dân cũ và mới, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất Tổ quốc,
Bác đi duyệt binh tháng 12.1954
đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Ba là, thắng lợi to lớn và có ý nghĩa lịch sử của sự nghiệp đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, đưa đất nước từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội với mục tiêu:
“dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; củng cố vững chắc hơn độc lập dân tộc, từng bước đưa nước ta lên chủ nghĩa xã hội.
Đại hội XI của Đảng đã khẳng định: “Qua tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, chúng ta càng thấy rõ ý nghĩa lịch sử và giá trị định hướng, chỉ đạo to lớn của Cương lĩnh đối với công cuộc đổi mới theo con đường xã hội chủ nghĩa ở nước ta; đồng thời cũng thấy rõ thêm những vấn đề mới đặt ra cần tiếp tục được giải đáp”.
www.themegallery.com
3- Những nội dung cơ bản của con đường đi lên CNXH ở nước ta
Kế thừa Đại hội X, Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định: Để thực hiện thành công mục tiêu tổng quát, mục tiêu đến giữa thế kỷ XXI tới,
toàn Đảng, toàn dân ta cần nêu cao tinh thần cách mạng tiến công, ý chí tự lực tự cường, phát huy mọi tiềm năng và trí tuệ, tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, quán triệt và thực hiện tốt các phương hướng cơ bản sau đây:
Phương hướng cơ bản xây dựng chủ nghĩa xã hội trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011)
“Một là, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường.
Một là, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường.
Tiến hành công nghiệp hóa là một nhiệm vụ tất yếu của những nước chưa có chủ nghĩa tư bản phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội. Đó là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Từ một nền sản xuất nhỏ, nông nghiệp lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã hội, Việt Nam tất yếu phải tiến hành công nghiệp hóa.
Trong thời đại bùng nổ cách mạng khoa học và công nghệ, công nghiệp hóa phải kết hợp ngay từ đầu với hiện đại hóa, gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên môi trường.
Phương hướng cơ bản xây dựng chủ nghĩa xã hội trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011)
Hai là, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là bước phát triển mới về lý luận của Đảng ta trong quá trình đổi mới. Đây là sự vận dụng sáng tạo từ những chỉ dẫn của chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, đặc biệt những chỉ dẫn của V.I. Lênin trong Chính sách kinh tế mới (NEP); đồng thời xuất phát từ tổng kết thực tiễn Việt Nam giai đoạn vừa qua.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xác định là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường thể hiện qua các đặc trưng cơ bản là:
Về sở hữu và các thành phần kinh tế:
Về phân phối:
Về quản lý:
Phương hướng cơ bản xây dựng chủ nghĩa xã hội trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011)
Ba là, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.
LỄ HỘI MẠC CỬU-HÀ TIÊN
HÁT QUAN HỌ
VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG
www.themegallery.com
Ba là, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.
Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, văn hóa hiểu theo nghĩa chung là toàn bộ giá trị của đời sống xã hội. Để xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, phải lấy văn hóa làm nền tảng tinh thần.
Đại hội XI khẳng định: "Xâydựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển“.
Phương hướng cơ bản xây dựng chủ nghĩa xã hội trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011)
Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự và an toàn xã hội.
Củng cố, giữ vững độc lập, tạo điều kiện để xây dựng CNXH.
Xây dựng CNXH lại tạo ra cơ sở vật chất và tinh thần để bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN.
www.themegallery.com
Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
Dựng nước gắn liền với giữ nước là quy luật lịch sử của dân tộc ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: Các vua Hùng đã có công dựng nước. Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước. Trong thời kỳ phát triển mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Bảo đảm an ninh quốc gia ngày nay bao gồm: an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng văn hóa, an ninh xã hội. Bảo vệ Tổ quốc ngày nay không chỉ là bảo vệ lãnh thổ, biên giới, hải đảo, vùng trời, vùng biển mà còn là bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân; bảo vệ kinh tế, văn hóa dân tộc, sự nghiệp đổi mới.
Năm là, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.
Phương hướng cơ bản xây dựng chủ nghĩa xã hội trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011)
Năm là, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.
Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh;
là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. Đây là sự vận dụng sáng tạo bài học kinh nghiệm lớn của Đảng ta về phát huy sức mạnh của dân tộc và thời đại trong hoàn cảnh hiện nay.
Sáu là, xây dựng nền dân chủ XHCN, thực hiện đại ĐK toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất.
Phương hướng cơ bản xây dựng chủ nghĩa xã hội trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011)
www.themegallery.com
Sáu là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất.
Dân chủ là bản chất của chủ nghĩa xã hội. Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân là bản chất của chế độ xã hội ở nước ta Dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Phát huy dân chủ gắn liền với phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất.
Thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các hình thức thực hành dân chủ: dân chủ đại diện, dân chủ trực tiếp ở cơ sở và tự quản trong các cộng đồng dân cư.
Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vừa là ng
 








Các ý kiến mới nhất